Cà phê Robusta (Cà phê Vối) – Nguồn gốc và đặc tính

cà phê robusta

TÀI LIỆU CHO QUYỀN NGƯỜI DÙNG STANDARD

Quyền người dùng hiện tại là :

CÀ PHÊ ROBUSTA

Cà phê Robusta hay còn gọi là Cà phê Vối có tên khoa học là Coffea Robusta hoặc Coffea Canephora. Hàm lượng caffein trong hạt cà phê vối khoảng 3-4%, trong khi ở cà phê chè chỉ khoảng 1-1.9%.

Cà phê Robusta thuộc giống Canephora (danh pháp: Coffea canephora), cùng với Arabica đây là một trong hai loại cà phê được trồng thương mại chủ yếu trên thế giới. Robusta còn là giống chủ lực của ngành cà phê Việt Nam, góp phần giữ vị trí thứ 2 về sản lượng cà phê. Tuy nhiên, cũng cần biết rằng Robusta chỉ chiếm dưới 30% tổng cơ cấu sản xuất cà phê toàn cầu, phần còn lại thuộc về giống Arabica và các giống con của nó.

1. Nguồn gốc

   Cà phê Robusta (Coffea Canephora) được phát hiện lần đầu tiên ở Congo – Bỉ (thuộc châu Phi) vào những năm 1800. Coffea Canephora còn là một loại cây bản địa của các khu rừng nhiệt đới xung quanh Hồ Victoria ở Uganda. Cà phê Robusta được đưa vào Đông Nam Á vào những năm 1900, sau khi bệnh gỉ sắt (Coffee Leaf Rust) đã quét sạch toàn bộ giống Arabica ở Sri Lanka năm 1869 (hay 1867 theo Wiki), đồng thời tấn công hầu hết các đồn điền ở Java – Indonesia năm 1876.

   Hiện tại Robusta chiếm từ 30% đến 40% tổng sản lượng cà phê thế giới, phổ biến ở Tây và Trung Phi, Đông Nam Á, Trung – Nam Mỹ chủ yếu là Brazil (nơi nó được gọi là Conillon).

  Việc phổ biến cây cà phê Robusta bắt đầu gần sông Lomani, một nhánh của sông Congo ở Trung Phi. Thông qua một vườn ươm ở Brussels, cà phê Robusta từ Congo (Cộng hòa Dân chủ Congo) đã được chuyển đến Java. Từ đây, nó đã được nhân giống thành công để thiết lập các đồn điền ở các quốc gia khác như Ấn Độ, Uganda và Bờ Biển Ngà – The Craft and Science of Coffee

  Khu vực trung tâm châu Phi vốn được xem là nguồn gốc của hai loài cà phê thương mại chính bao gồm Coffea Arabica (tức Arabica) và Coffea Canephora (tức là Robusta). Mặc dù Robusta từ lâu đã được coi là anh/em cùng họ (Thiến thảo) xấu xí của Arabica, nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng trên thực tế không phải vậy. Hóa ra Robusta thực sự là cha/mẹ của giống Arabica. Bằng cách phân tích trình tự gen của của các loài thuộc giống cà phê, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, ở miền nam Sudan, Coffea canephora đã lai với một loài khác có tên Coffea Euginoides sinh ra giống Coffea Arabica.

Tại sao gọi là Robusta ? 

   Từ “robust” trong tiếng Anh mang nghĩa là “mạnh mẽ”, điều này cũng phần nào diễn tả được tính chất và hương vị của loại cà phê này. Robusta mang vị đắng đặc trưng mà bạn dễ dàng ấn tượng trong lần thử đầu tiên. Đây cũng yếu tố giúp chúng ta phân biệt được hạt Robusta và Arabica – thức cà phê mang vị chua chủ đạo lúc đầu, không đắng gắt và hậu vị ngọt kéo dài.

2. Đặc điểm thực vật học

   Ngay cả khi một số cây cà phê được tìm thấy ở nơi cách mực nước biển lên đến 2300m, thì hầu hết các loài (67%) đều thích nghi với phạm vi giới hạn độ cao dưới 1000m. Và Robusta là điển hình trong nhóm “dễ thích nghi” đó, nên chúng được trồng ở các khu vực thấp hơn Arabica (chỉ trong tầm 0 – 800m). Bù lại Robusta yêu cầu lượng mưa khá lớn (từ 1200 – 2500mm) do đó, hầu hết các loài có phân bố rộng ở lục địa châu Phi (tức là C. canephoraC. eugenioides) thường được tìm thấy trong môi trường ẩm ướt.

   Cà phê Robusta có một số ưu điểm nổi trội so với cây cà phê Arabica như khả năng chống bệnh gỉ sắt (Coffee Leaf Rust), sâu đục thân, các bệnh tuyến trùng… và cho năng suất cao hơn cà phê Arabica nhiều. Vì những lý do này, chi phí trồng Robusta tương đối thấp so với giống Arabica. Mặt khác, không có khả năng chịu đựng các điều kiện hạn hán kéo dài, chịu lạnh kém (nhiệt độ tối thích trong khoảng (18 – 36oC), sản lượng không ổn định so với Arabica, đây là một số thuộc tính tiêu cực của cà phê Robusta.

   Cây cà phê Vối có dạng cây gỗ hoặc cây bụi, chiều cao của cây trưởng thành có thể lên tới 10 m. Quả cà phê có hình tròn, hạt nhỏ hơn hạt cà phê chè (tức cà phê arabica). Hàm lượng caffein trong hạt cà phê vối khoảng 2-4%, trong khi ở cà phê chè chỉ khoảng 1-2%.

   Giống như cà phê chè, cây cà phê vối 3-4 tuổi có thể bắt đầu thu hoạch. Cây cho hạt trong khoảng từ 20 đến 30 năm.

3. Chế biến và đặc tính hương vị cà phê Robusta

   Hương vị của cà phê Robusta luôn được đánh giá là kém cạnh hơn so với Arabica từ trước đến nay, chất vị đậm, chát và đắng hơn, đặc biệt độ chua – Acidity cao hơn Arabica. Kể từ khi cà phê Arabica được cho là có chất vị mượt mà với axit cao hơn và một hương vị phong phú hơn, chúng thường được coi là cao cấp. Thêm vào đó các khu vực trồng và chế biến cà phê Robusta hầu hết tập trung chế biến khô (thay vì chế biến ướt như các giống Arabica), dẫn đến hương vị càng chát đắng hơn, có mùi đất, khét khi rang.

   Trong tự nhiên, Chlorogenic Acid (CGA) và Cafein có vai trò giúp cây cà phê chống lại côn trùng, Vì cây Robusta có khả năng miễn nhiễm trước côn trùng mạnh hơn Arabica. Tuy nhiên bù lại thiệt thòi về chất vị, cà phê Robusta có hàm lượng Caffein trung bình cao gấp đôi so với Arabica (2% -2.5% so với 1.1% -1.5%). Vì vậy sự kết hợp cà phê Arabica cùng Robusta cho tổng hòa chất lượng tương đối cao hơn cà phê Arabica, chính vì điều này các loại cà phê Ý (Espresso) luôn có 10 -15% cà phê Robusta để tăng cường hương vị và tạo lớp Crema hấp dẫn hơn.

   Và từ thực tiễn sản xuất cho thấy, cà phê Robusta khi được chế biến ướt có thể cho phẩm chất cao hơn các giống Arabica thông thường (vì Arabica có rất nhiều chủng loại và không phải loại nào cũng tốt). Nên sự so sánh Arabica và Robusta đôi khi không hoàn toàn chính xác.

   Hạt cà phê Robusta có tỷ lệ cafeine cao, vị của cà phê Robusta nằm trong khoảng từ trung tính cho đến rất gắt vì vậy phù hợp với gu uống cà phê đắng của người Việt Nam. Vì vậy không có gì làm lạ khi cà phê Robusta được ưa chuộng hơn các loại cà phê khác trên thị trường.

   Khi ngửi cà phê Robusta chưa rang sẽ thấy mùi giống như đậu phộng tươi. Mùi cà phê Robusta rang mộc nguyên chất sẽ có mùi thơm thoang thoảng. Khi ngửi thật kỹ giống như có mùi cao su bị đốt cháy.

   Sở thích về cà phê cũng rất khác nhau tùy theo bạn thuộc loại gu nào. Có người thích dùng 100% Arabica, cũng có người thích 100% Robusta, nhưng theo số đông người Việt và kể cả nước ngoài là thích uống cà phê ở dạng pha trộn hơn, chẳng hạn như pha trộn 70% Robusta – 30% Arabica hoặc 50% Arabica – 50% Robsuta.

   Trong quá trình chế biến, rang cà phê Robusta. Đối với khâu chế biến và rang cà phê cần phải có sự cẩn thận và tỉ mẩn rất cao và không thể thiếu những khoa học tiến bộ áp dụng vào đó. Có hai cách chế biến quả cà phê tươi, đó là chế biến ướt và chế biến khô. Rang cà phê Robusta cần phải đủ độ lửa, vừa đủ thời gian để cho hạt cà phê vừa chín tới, không được cháy sẽ có mùi khét.

4. Robusta tại Việt Nam

   Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê Robusta đứng đầu thế giới. Với các điều kiện thuận lợi đặc điểm khí hậu, lượng mưa, độ cao… ở phần lớn các vùng trồng cà phê của Việt Nam trồng tốt loại cà phê này.

CÀ PHÊ ROBUSTA

   Cà phê vối chứa hàm lượng caffein cao hơn và có hương vị không tinh khiết bằng cà phê chè, do vậy mà được đánh giá thấp hơn. Giá một bao cà phê vối thường chỉ bằng một nửa so với cà phê chè. Niên vụ 2012- 2013, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,426 triệu tấn (~ 23,77 triệu bao, loại 60 kg/bao) cà phê loại này, chiếm gần một nửa lượng cà phê vối xuất khẩu của toàn thế giới (trên 60 triệu bao).

   Hiện nay gần 90% diện tích cà phê ở Việt Nam được trồng cà phê vối, 10% trồng cà phê chè, khoảng 1% còn lại được trồng cà phê mít (Coffea excelsa).

   Hiện nay, có 2 cách thu hoạch cà phê là hái tay và hái máy. Hái máy thường hay sử dụng ở các nông trại cà phê có quy mô lớn. Khi hái máy thì quan sát mức độ chín trên cây tới tỷ lệ chín cần thu hoạch thì tiến hành hái tất cả nhánh, cây cùng 1 lần. Cách hái này thường lẫn với những hạt chưa chín. Phương pháp hái tay là phương pháp được áp dụng chủ yếu ở Việt Nam. Trong phương pháp hái tay có 02 kiểu đó là hái suốt là hái chọn lựa.

  Hái suốt:

   Khi quan sát cây cà phê chín đều khoảng 90 -95% thì nhà vườn bắt đầu thu hoạch. Họ dùng 1 tấm bạt to trải đều quanh gốc cà phê sao cho diện tích tấm bạt lớn hơn diện tích tán cây để hạt cà phê không bị bay ra ngoài. Người thu hái bắt đầu suốt hết một loạt cả trái chín và chưa chín để đưa đi chế biến.

   Hái kiểu chọn lựa:

  Khi cà phê trên cây đã chín, người thu hoạch mang gùi, thúng ra và chỉ hái những hạt đã chín đỏ trên cây chứ không hái hạt xanh. Cách thu hoạch này tốn rất nhiều nhân công nhưng ngược lại cho chất lượng cà phê rất tuyệt vời. Cách hái này chỉ phù hợp cho những vùng có nguồn nguyên liệu cà phê cao cấp như Arabica Cầu Đất xuất sang Mỹ hay hái về cho chồn hương ăn để sản xuất cà phê chồn.

   Nói chung tùy theo mục tiêu nhà vườn hướng đến về chất lượng mà cân đối, tính toán để lựa chọn kỹ thuật hái cà phê cho phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.  

Nguồn: Internet

btn-dangkyhocthu